Soạn bài khái quát lịch sử tiếng việt

Thứ năm , 15/01/2015, 19:59 GMT+7
     

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT

A- NHỮNG KIẾN THỨC CẦN LƯU Ý

Về tiếng Việt các em đã được học nhiều ở các cấp dưới, nhất là ở THCS song về lịch sử tiếng Việt thì đây là lần đầu tiên các em được học. Tuy nhiên, có những vấn đề các em đã được tiếp cận như từ Hán Việt, sự uyển chuyển phong phú của tiếng Việt... Vì vậy, khi học bài này, cần vận dụng những kiến thức đã học để hiểu sâu hơn các nội dung được trình bày trong sách giáo khoa. Bài học có hai nội dung chính là lịch sử phát triển của tiếng Việt và chữ viết của tiếng Việt.

Học phần thứ nhất, cần nắm được: Tiếng Việt đã không ngừng phát triển qua các giai đoạn lịch sử, không ngừng vươn lên thực hiện đầy đủ các chức năng ngày càng mở rộng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, càng phong phú của đời sống xã hội, của tiến trình phát triển của đất nước. Trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã tiếp nhận và cải biến nhiều yếu tố ngôn ngữ từ bên ngoài đưa tới theo hướng chủ đạo là Việt hoá. Nhờ vậy mà tiếng Việt ngày càng trở nên phong phú, uyển chuyển, tinh tế, chuẩn xác. Bảo vệ sự trong sáng, tính giàu đẹp của tiếng Việt là một việc làm mang tinh thần dân tộc và ý thức tự tôn, phát triển văn hoá dân tộc.

B- HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu 1. Tìm ví dụ minh hoạ cho biện pháp Việt hoá từ ngữ Hán được vay mượn đã nêu trong bài.

Ngoài hướng Việt hoá về mặt âm đọc như sách giáo khoa đã nêu, còn có các cách vay mượn theo hướng Việt hoá như sau:

a) Rút gọn: Thủy chung như nhất thành thủy chung

b) Đảo lại vị trí các yếu tố: độc mộc thuyền thành thuyền độc mộc, độc chất đổi thành chất độc.

c) Đổi nghĩa hoặc thu hẹp, mở rộng nghĩa:

+ đáo để: Hán: đến cùng, đến cuối cùng. Việt: chỉ người đanh đá, không chịu ai

+ giang hồ: Hán: là sông và hồ. Việt: chỉ người nay đây mai đó thường có nghĩa xấu).

+ lịch sự: Hán: kinh qua sự việc, thạo việc. Việt: giao thiệp khôn khéo.

+ bì: Hán: da. Việt: ngoài nghĩa đó còn thêm nghĩa như bì (lún), bì (xi măng)

d) Sao phỏng, dịch nghĩa ra tiếng Việt:

bách chiến bách thắng thành trăm trận trăm thắng; bách phát bách trúng thành trăm phát trăm trúng; sơn dương thành dê núi; tứ thời thành bốn mùa...

Câu  2. Cảm nhận của em về những ưu điểm của chữ quốc ngữ với tư cách là công cụ phụ trợ của tiếng Việt.

Có thể có những cảm nhận tinh tế khác nhau song cần có sự thống nhất trên những nội dung chính sau:

- Chữ quốc ngữ là thứ chữ đơn giản về hình thức kết cấu.

- Chữ quốc ngữ là loại chữ ghi âm tiếng nói nên giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ cao. Chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi chữ trong tiếng Việt. Dễ phổ cập.

- Tính quốc tế hoá cao vì xuất thân từ ngữ hệ la tinh thông dụng trên thế giới.

Câu  3. Hãy tìm thêm ví dụ để minh hoạ cho ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học đã nêu trong bài.

- Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây:

Moyeu  moay ơ; guidon ghi đông; savon  xà phòng; poste  bốt; gare  ga; cafe  cà phê...

- Vay mượn thuật ngữ khoa học - kĩ thuật qua tiếng Trung Quốc: khí quyển, hoạ tiết, thảo cầm viên, khinh khí cầu, hàng không mẫu hạm...

- Đặt thuật ngữ thuần Việt (dịch ý hoặc sao phỏng): trăm trận trăm thắng (thay cho bách chiến bách thắng), cành vàng lá ngọc (thay cho kim chi ngọc diệp), cửa sông (thay cho hà khẩu), cửa biển (thay cho hải khẩu), nghề nông (thay cho nông nghiệp)...

Tuy nhiên trong phiên âm danh từ riêng tiếng nước ngoài nên phiên âm theo tiếng la tinh, không nên phiên âm theo âm Hán Việt, như thế mới có tính quốc tế. Nếu không chỉ người Việt hiểu, còn người nước khác sẽ không hiểu. Ví dụ: Tổng bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa ta dịch là Hồ Cẩm Đào thì ngay người Trung Hoa cũng không biết là đang nói tới ông nào. Nhưng đọc viết là Hu Jin Tao thì ai cũng biết, cũng như vậy là các trường hợp Shang hai - Thượng Hải. Hoặc đọc là Ý, Úc nước ngoài không hiểu nhưng đọc, viết là Italia, ốtxtơria thì họ đều hiểu.

soạn bài khái quát lịch sử tiếng việt khái quát lịch sử tiếng việt