Soạn bài chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Thứ hai , 12/01/2015, 22:59 GMT+7
     

Soạn bài chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan

Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tác giả viết bài này trong thời điểm nào của lịch sử? Nêu vấn đề gì? Ý nghĩa?

- Thời điểm lịch sử mà tác giả Vũ Khoan viết bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ là tết năm Tân Tị 2001, năm mở đầu của thế kỉ XXI và thiên niên kỉ thứ ba, tính từ đầu công nguyên theo dương lịch.

- Vì vậy cảm xúc của tác giả là viết về một vấn đề có ý nghĩa thời sự và lâu dài trong thời đại đang mở ra những thách thức và tiềm năm mới.

Câu 2. Hãy đọc và lập dàn ý theo trình tự lập luận của tác giả.

Mở bài:

Đề bài chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, lớp trẻ chúng ta cần nhận ra cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam để rèn những thói quen tốt khi bước vào nền kinh tế mới.

Thân bài:

- Tến Tân Tị 2001 là sự chuyển tiếp giữa hai thế kỉ và giữa hai thiên niên kỉ.

- Con người là động lực phát triển lịch sử vì vậy trước hết cần trang bị hành trang cho con người.

- Con người của chúng ta có mặt mạnh và mặt yếu, cần phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu, mới có thể hội nhập vào các nền kinh tế tri thức.

- Trước sự phát triển của khoa học và kĩ thuật, muốn hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nước ta cùng một lúc phải giải quyết ba nhiệm vụ: 

+ Thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp.

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức.

- Cái mạnh, cái yếu của người Việt Nam.

+ Cái mạnh là cần cù, sáng tạo.

+ Bên cạnh đó lại chứa những cái yếu, thường là hành động theo phương châm: “nước đến chân mới nhảy” hay “liệu cơm gắp mắm”, không có thói quen nghiệm ngặt, tỉ mỉ trong công nghệ, lao động.

- Thế giới ngày nay là một thế giới mạng, ở đó hàng triệu người trên phạm vi toàn cầu gắn kết với nhau trong mạng In-tơ-nét, rất phù hợp với truyền thống lâu đời của nhân dân ta là “sống đùm bọc”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, nhưng chúng ta phải loại bỏ lối sống “trâu buộc ghét trâu ăn”.

Như vậy bước vào thế kỉ mơi, đất nước ta sẽ hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Chúng ta phải thích ứng nhanh, phải tận dụng cơ hội ứng phó với mọi thách thức.

Kết bài.

Muốn sánh vai với năm châu, trong thế kỉ mới, chúng ra phải chuẩn bị hành trang cho mình bằng những truyền thống cao đẹp, những điểm mạnh và phải kiên quyết vứt bỏ những điểm yếu.

Câu 3. Trong bài này, tác giả cho rằng: “Trong những hành trang ấy.. quan trọng nhất”. Điều đó có đúng không, vì sao?

Để chuẩn bị cho cuộc hành trang vào thế kỉ tác giả đề cập trước hết là con người vì như ông đã nói “Từ cổ chí kim, bao giờ con người vẫn là động lực phát triển của lịch sử”. Điều này rất đúng cho sự phát triển của đất nước ta. Từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo đất nước, nhân dân đã đi những bước dài trên con đường phát triển. Từ một dân tộc đang chịu cảnh nô lệ nay trở thành một nước hùng mạnh.

Phải chăng đã đến lúc chúng ta chuẩn bị cho mình một khả năng, một kĩ năng để giải quyết cùng một lúc ba nhiệm vụ: Thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đồng thời lại phải tiếp cận với nền kinh tế tri thức.

Lớp trẻ chúng ta là lớp người đầu tiên phải chuẩn bị tốt hành trang cho mình.

Câu 4. Tác giả đã nêu ra và phân tích những điểm mạnh, những điểm yếu nào trong tính cách, thói quen của con người Việt Nam chúng ta?

Đề ra nhiệm vụ, tác giả quay nhìn lại những điểm mạnh, những điểm yếu của con người Việt nam chúng ta.

Tác giả nhận thấy cái mạnh mẽ của chúng ta là: thông minh, nhảy bén với cái mới. Đó là bản chất trời phú cho rất có ích cho xã hội ngày mai trong đó sự sáng tạo là yêu cầu ở hàng đầu.

Nhưng, đồng thời tác giả cũng nhận thấy chúng ta còn tồn  tại không ít cái yếu. Đó là những lỗ hổng về kiến thức và chạy theo những môn học thời thượng.

Đặc biệt là yếu kém khả năng thực hành và thiếu sáng tạo do lối học chay, học vẹt. Từ đó tác giả khuyến cáo: nếu không nhanh chóng lấp những lỗ hổng thì rất khó phát huy tính thông minh sẵn có và không thể thích ứng kịp thời với nền kinh tế mới chứa đầy tri thức và biến đổi không ngừng.

Câu 5. Nhận xét của tác giả có gì giống và có điểm nào khác với những điều em đã học? Thái độ của tác giả khi nêu những nhận xét này?

Tác giả còn chỉ ra một điều làm chúng ta phải suy nghĩ:

- Đó là sự cần cù sáng tạo vốn là mặt mạnh nhưng vươn lên nền kinh tế công nghiệp hóa thì lại thiếu đức tính tỉ mỉ:

- Chúng ta thường dựa vào tính tháo vát và hành động theo phương châm:

+ “Nước đến chân mới nhảy”.

+ “Liệu cơm gắp mắm”, nên có lúc không thích ứng kịp thời.

- Mặt khác ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề phương thức sản xuất nhỏ và cách sống ở nơi thôn dã, quen sống thoải mái thanh thản nên chưa có thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt hay hoạt động, lao động khẩn trương.

Nhân dân ta có truyền thống lâu đời là “đùm bọc, đoàn kết với nhau” theo phương châm “nhiễu điều phủ lấy giá gương”. Truyền thống này được thể hiện mạnh mẽ nhất trong các thời kì chống xâm lược. Nhưng ta vẫn thích ứng chậm chạp với một thế giới đang đòi hỏi phải có tính cộng đồng cao hơn nữa khi kỹ thuật vi tính phát triển.

Chưa kể, chúng ta vẫn còn tồn tại rơi rớt lối suy nghĩ “trâu buộc ghét trâu ăn” đối với người hơn mình ở trong một làng, xã…

Để có khả năng hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, chúng ta phải loại trừ những thái độ kì thị, thói quen kinh doanh bao cấp, nếp suy nghĩ sung ngại hoặc bài ngoại. Phải loại bỏ ngay cái thói “khôn vặt” “bốc ngắn cắn dài”, phải coi trọng chữ tín mới mong hội nhập vào thế giới hiện nay.

LUYỆN TẬP

Câu 1. Những dẫn chứng cụ thể trong thực tế xã hội và trong nhà trường biểu lộ rõ cái mạnh và cái yếu của người Việt Nam.

Ở lớp em có nhiều bạn học rất chăm chỉ, thông minh, nhiều bạn có sáng tạo trong việc làm các bài tập làm văn và bài tập toán. Bài của các bạn đó được cô giáo khen, đọc cho cả lớp nghe. Nhưng các bạn ấy cũng như em thường có các mặt yếu là thiếu khả năng thực hành, khi cô giáo chủ cần ra đề bài toán hoặc tập làm văn khác với tập làm văn bình thường là chúng em “bí” ngay, không thể đào sâu suy nghĩ được.

Ngoài xã hội thì ở xóm em, có chú Tư Hậu, làm ăn rất năng nổ. Bỏ cái cày ra là chú cầm lấy cuốc, lấy xẻng để khai thác mảnh vườn trước cửa nhà. Vì vậy vườn của chú luôn xanh tốt và có nhiều cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như hồ tiêu, cà phê, cây điều… Tuy nhiên chú Tư cũng có mặt yếu là hay tị nạnh với hàng xóm về cái lối đi, hoặc thấy bà con nào làm ăn phát đạt là chú bĩu môi, chê bai. Có lúc chú như người chỉ thích được người khác khen và giấu cách trồng cây, nuôi cá sao cho đạt hiệu quả nhất.

Câu 2. Em hãy độc lại yêu cầu trên sách giáo khoa rồi suy nghĩ xem mặt mạnh, mặt yếu của mình như thế nào? Và tự làm bài tập này theo gợi ý sau:

- Bản thân em có chăm chỉ, cần cù học tập không? Ở trên lớp em có chú ý nghe giảng, suy nghĩ phát biểu ý kiến khi cô giáo gọi?

+ Về nhà em có chăm chỉ làm các bài tập, có luyện tập nhiều cách giải hoặc thực hiện đề tập làm văn hay chỉ làm cho xong, cho đủ mà không chịu đào sâu, suy nghĩ gì?

+ Có lúc nào em thích vận dụng kiến thức đã học vào thực tế? (Ví dụ: vận dụng khoa sinh vật học vào trồng tỉa và chăn nuôi).

+ Em có thỏa mãn với kết quả đạt được bước đầu tuy không cao, không nhiều làm cản trợ đến tinh thần phấn đấu vươn lên không?

Có lúc nào em ghen tị với bạn bè vì thấy bạn hơn mình? Em có ý thức kết bạn để học hỏi lẫn nhay, tạo cho mình một nếp sống tập thể cao hơn hay không?

- Sauk hi đã thấy mặt mạnh, mặt yếu của mình, em tự đặt cho mình một phương hướng khắc phục như thế nào?

+ Về phấn đấu trong học tập

+ Về cuộc sống tập thể.

+ Về hoạt động đoàn thể, xã hội.

chuan bi hanh trang vao the ki moi vu khoan